Kiểm định là hoạt động kỹ thuật theo một quy trình nhất định nhằm đánh giá và xác nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá với yêu cầu quy định trong quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
(Theo Luật Chất lượng Sản phẩm hàng hóa số 05/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007)
Kiểm định an toàn hay kiểm định kỹ thuật an toàn là hoạt động kỹ thuật theo một quá trình kiểm định nhằm đánh giá và xác nhận sự phù hợp tình trạng kỹ thuật an toàn của đối tượng kiểm định được quy định trong các quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật tương ứng đối với đối tượng kiểm định.
Kiểm định là hoạt động đánh giá, xác nhận đặc tính kỹ thuật đo lường của phương tiện đo theo yêu cầu kỹ thuật đo lường.
(Theo Luật Đo lường số 04/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011)
Chứng nhận là việc đánh giá và xác nhận sự phù hợp của sản phẩm, quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ với tiêu chuẩn công bố áp dụng (gọi là chứng nhận hợp chuẩn) hoặc với quy chuẩn kỹ thuật (gọi là chứng nhận hợp quy).
(Theo Luật Chất lượng Sản phẩm hàng hóa số 05/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007)
Kiểm định là việc xác định, xem xét sự phù hợp của phương tiện đo so với yêu cầu pháp lý có đạt các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể hay không, kết quả do cơ quan kiểm định nhà nước xác định là đạt hoặc không đạt. Kiểm định mang tính chất bắt buộc đối với các phương tiện đo có trong "Danh mục các thiết bị bắt buộc kiểm định" theo Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN ngày 26/9/2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ. Việc kiểm định phương tiện đo do kiểm định viên đo lường thực hiện thống nhất theo các quy trình kiểm định. Thiết bị đo sau khi kiểm định đạt yêu cầu được dán tem kiểm định hoặc cấp giấy chứng nhận kiểm định của cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường hoặc cơ sở được uỷ quyền kiểm định Nhà nước và có giá trị pháp lý trong cả nước.
Hiệu chuẩn phương tiện đo là thiết lập mới tương quan giữa đo lường và phương tiện đo. Hiệu chuẩn không mang tính chất bắt buộc. Dựa vào kết quả hiệu chuẩn, khách hàng tự quyết định xem thiết bị có sử dụng nữa hay không.
Bản chất kỹ thuật của hiệu chuẩn và kiểm định giống nhau: đó là việc so sánh phương tiện đo với chuẩn để đánh giá sai số và các đặc trưng kỹ thuật, đo lường khác của nó. Khác nhau là kiểm định theo yêu cầu của pháp lý, bắt buộc áp dụng trong khi hiệu chuẩn là tự nguyện.
Kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá (sau đây gọi là kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa) là việc cơ quan nhà nước xem xét, đánh giá lại chất lượng sản phẩm, hàng hoá, quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ đã được đánh giá chất lượng bởi các tổ chức đánh giá sự phù hợp hoặc đã được áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng khác của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh.
(Theo Luật Chất lượng Sản phẩm hàng hóa số 05/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007)
Thí nghiệm, hay thực nghiệm, là một bước trong phương pháp khoa học dùng để phân minh giữa mô hình khoa học hay giả thuyết. Một thí nghiệm thường có mục đích chính là kiểm tra giả thuyết. Tuy nhiên, thí nghiệm cũng được dùng để kiểm chứng câu hỏi hoặc kiểm tra kết quả trước đó.
(Theo Wikipedia Tiếng Việt)
Thử nghiệm là thao tác kỹ thuật nhằm xác định một hay nhiều đặc tính của đối tượng cụ thể (sản phẩm, hàng hóa, thiết bị....) theo một quy trình nhất định.
(Theo Luật Chất lượng Sản phẩm hàng hóa số 05/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007)
Thử nghiệm là việc xác định một hoặc một số đặc tính kỹ thuật đo lường của phương tiện đo, chuẩn đo lường.
(Theo Luật Đo lường số 04/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011)
Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này.
Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng. Việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn tương ứng gọi là chứng nhận hợp chuẩn
(Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật số 68/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006)
Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác.
Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng. Việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng gọi là chứng nhận hợp quy.
(Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật số 68/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006)
Đánh giá sự phù hợp là việc xác định đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý quy định trong tiêu chuẩn tương ứng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, công nhận năng lực của phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ chức chứng nhận sự phù hợp, tổ chức giám định.
(Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật số 68/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006)
Hiệu chuẩn là hoạt động xác định, thiết lập mối quan hệ giữa giá trị đo của chuẩn đo lường, phương tiện đo với giá trị đo của đại lượng cần đo.Trong đó:
Chuẩn đo lường là phương tiện kỹ thuật để thể hiện, duy trì đơn vị đo của đại lượng đo và được dùng làm chuẩn để so sánh với phương tiện đo hoặc chuẩn đo lường khác.
Phương tiện đo là phương tiện kỹ thuật để thực hiện phép đo.
Phép đo là tập hợp những thao tác để xác định giá trị đo của đại lượng cần đo.
(Theo Luật Đo lường số 04/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011)
Giám định là việc xem xét sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa so với hợp đồng hoặc tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng bằng cách quan trắc và đánh giá kết quả đo, thử nghiệm.
(Theo Luật Chất lượng Sản phẩm hàng hóa số 05/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007)
Thử nghiệm thành thạo (TNTT) hay PT (proficiency testing) là phương thức đánh giá năng lực PTN bằng cách so sánh kết quả thực hiện các phép đo hoặc phép thử giữa các PTN trên cùng một mẫu thử hoặc trên các mẫu thử tương tự nhau trong những điều kiện đã được định trước. Nói cách khác, các PTN khi tham gia một chương trình TNTT sẽ được gửi các mẫu thử như nhau để phân tích một hoặc một vài chỉ tiêu và Ban tổ chức sẽ dựa vào kết quả phân tích này để đánh giá sự thành thạo trong việc thực hiện phép thử đó của PTN.
TNTT là một trong những công cụ để kiểm soát chất lượng của các PTN. Ngoài TNTT, PTN cũng có thể sử dụng các công cụ khác để theo dõi năng lực thử nghiệm của mình. Thực tế, theo chính sách của các cơ quan công nhận như BOA của Việt Nam, A2LA, ILAC cũng chỉ dừng lại ở mức khuyến nghị việc sử dụng TNTT để tự theo dõi năng lực thử nghiệm của mình chứ không bắt buộc.Tuy nhiên, do tính khách quan, độc lập và dễ thực hiện của mình nên TNTT ngày càng được các PTN sử dụng rộng rãi hơn là các công cụ đảm bảo chất lượng khác.
Tùy thuộc vào từng mô hình tổ chức khác nhau, các bước thực hiện chương trình TNTT sẽ khác nhau nhưng nhìn chung, hầu hết các mô hình tổ chức PTN đều phải thực hiện các bước như sau:
- Đăng ký tham gia chương trình;
- Thanh toán chi phí (có thể kéo dài đến trước khi ban hành Báo cáo kết thúc chương trình);
- Nhận mẫu và thử nghiệm;
- Báo cáo kết quả thử nghiệm cho Ban tổ chức;
Lĩnh vực tổ chức:
- Hóa lý;
- Vi sinh;
- Cơ lý;
- Cơ điện.
Đối tượng tổ chức:
- Thực phẩm;
- Thức ăn chăn nuôi;
- Phân bón;
- Đồ gỗ gia dụng;
- Cáp điện, quạt, balat đèn huỳnh quang;
- Xi măng, bê tông, nhựa đường, cát xây dựng;
- Phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc trừ sâu;
- Dầu bôi trơn, DO, FO, xăng;
- Thép hợp kim, thép không gỉ;
Trong trường hợp PTN tham gia theo sự chỉ định của cơ quan quản lý PTN hoặc đơn vị chủ quản PTN. ISO TECH sẽ cung cấp thông tin PTN tham gia kèm theo kết quả tham gia TNTT của các PTN trực thuộc cơ quan quản lý khi được yêu cầu mà không cần báo trước cho các PTN tham gia
Đối với PTN:
- Hỗ trợ PTN cam kết và chứng minh các vấn đề về chất lượng;
- Động lực để nâng cao/cải tiến năng lực thực hiện thử nghiệm;
- Hỗ trợ cho việc công nhận/chứng nhận các tiêu chuẩn chất lượng;
- Hỗ trợ PTN nhận diện các vấn đề chất lượng trong thử nghiệm;
- Hỗ trợ PTN đánh giá phương pháp và thiết bị mới;
- Hỗ trợ PTN đào tạo nhân viên;
- PTN nhận được thông tin phản hồi và tư vấn kỹ thuật hữu ích từ ban tổ chức (báo cáo, bản tin, các cuộc hội thảo);
- Một số lợi ích gián tiếp khác: đảm bảo uy tín, bảo vệ, phòng ngừa việc mất danh tiếng do thực hiện thử nghiệm kém.
Đối với các cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý
- Hỗ trợ hoạt động xem xét năng lực thử nghiệm của các PTN trực thuốc;
- Hỗ trợ lựa chọn PTN chỉ định hoặc PTN đối chứng.